Giá cao su kỳ hạn tại các thị trường chính có mức tăng nhẹ khi mở cửa phiên giao dịch đầu tuần, tuy nhiên xu hướng vẫn thận trọng. Tương tự, doanh nghiệp cao su Bình Long thông báo nâng giá thu mua cao su nguyên liệu.
Giá cao su thế giới
Mở cửa phiên giao dịch 15/12, tại Thái Lan, giá cao su kỳ hạn tháng 1/2026 nhích nhẹ lên 56 baht/kg. Tại thị trường Nhật Bản (OSE), giá cao su kỳ hạn tháng 1 tăng 0,1% (0,4 yen) lên mức 328 yen/kg. Tại Trung Quốc, giá cao su kỳ hạn tháng 3/2026 tăng 0,1% (15 nhân dân tệ) lên mức 15.255 nhân dân tệ/tấn.
Thị trường tiếp tục thận trọng trong việc theo dõi diễn biến cung cầu cao su thiên nhiên. Theo Cơ quan Thống kê Malaysia (DOSM), sản lượng cao su thiên nhiên (NR) của Malaysia tăng 11,4% lên 29.673 tấn trong tháng 10/2025, từ mức 26.647 tấn của tháng 9.
Tổng cục trưởng DOSM, Datuk Seri Dr Mohd Uzir Mahidin, cho biết sự cải thiện chủ yếu đến từ khu vực tiểu điền, chiếm 86,5% tổng sản lượng, so với 13,5% từ các đồn điền. “So với cùng kỳ năm trước, sản lượng NR giảm 22,7% (tháng 10/2024 ghi nhận 38.400 tấn),” ông cho biết trong thông báo.
Theo DOSM, tổng tồn kho NR giảm 8,9% xuống 145.438 tấn trong tháng 10, từ 159.646 tấn của tháng 9. Các nhà máy chế biến cao su chiếm 80,1% lượng tồn kho, tiếp theo là các nhà máy tiêu thụ cao su (19,8%) và đồn điền (0,1%).
Xuất khẩu cao su thiên nhiên tăng 57,8% lên 52.932 tấn trong tháng 10, từ 33.549 tấn của tháng 9. Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm 55,3% tổng giá trị xuất khẩu, theo sau là Đức (9,4%), Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (8,7%), Mỹ (8,0%) và Ai Cập (2,7%).
Găng tay cao su vẫn là mặt hàng cao su chủ lực của Malaysia, với giá trị xuất khẩu đạt 1,2 tỷ ringgit trong tháng 10, tăng 12,4% so với mức 1,1 tỷ ringgit của tháng trước.
Giá cao su bình quân hàng tháng suy yếu, trong đó giá cao su latex đặc giảm 1,4% (tháng 10 ghi nhận 569,84 sen/kg; tháng 9 đạt 577,89 sen/kg) và cao su vụn giảm 0,7% (tháng 10: 600,44 sen/kg; tháng 9: 604,53 sen/kg). Giá các chủng loại cao su Malaysia tiêu chuẩn giảm từ 0,4 - 1,9%.
DOSM cho biết theo dữ liệu giá hàng hóa của Ngân hàng Thế giới, cao su TSR 20 giảm 1,5% xuống 1,71 USD/kg từ mức 1,74 USD/kg, trong khi giá SGP/MYS (Singapore/Malaysia) trượt 4,9% xuống 2,00 USD/kg từ mức 2,11 USD/kg.
Giá cao su trong nước
Trong nước, giá thu mua cao su nguyên liệu có biến động nhẹ. Cụ thể, tại công ty Bình Long, giá cao su thu mua bình ổn tại Nhà máy ở mức 440 đồng/độ TSC/kg, giá thu mua tại đội sản xuất 412 đồng/TSC/kg, đều cao hơn 18 đồng so với kỳ trước; còn giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) 14.000 đồng/kg.
Trong khi đó, các doanh nghiệp khác bình ổn giá cao su. Cụ thể, Công ty Cao su Bà Rịa báo giá thu mua mủ nước ở mức 415 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 13.900 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.500 đồng/kg.
Tại Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 403-408 đồng/TSC (loại 2-loại 1), mủ đông tạp khoảng 368 – 419 đồng/DRC (loại 2-loại 1). Tương tự, Công ty Phú Riềng chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Theo đánh giá của Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA), thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng, chính sách thuế quan của Mỹ, biến động tỷ giá, chi phí logistics và năng lượng tăng cao, cùng tâm lý thận trọng của cả nhà sản xuất và nhà nhập khẩu, có thể kìm hãm đà phục hồi giá cao su.
Về dài hạn, xu hướng chuyển sang vật liệu thay thế, cao su tổng hợp cũng như sự phát triển mạnh của các phương tiện giao thông thân thiện môi trường như xe điện tiếp tục ảnh hưởng đến nhu cầu cao su thiên nhiên.
Dù đối mặt nhiều thách thức, ngành cao su Việt Nam vẫn kiên định mục tiêu chiến lược và đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Dự kiến năm 2025, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành tăng khoảng 3%, đạt 11,6 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu cao su thiên nhiên ước đạt hơn 3,2 tỷ USD, sản phẩm cao su khoảng 5,3 tỷ USD và gỗ cao su hơn 3,1 tỷ USD.
TV (t/h)
Hotline:








